Ivides » Tin Việt Nam học
 

Tin Việt Nam học

 

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM Ở HÀ NỘI: TẦM VÓC, Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

12h:58 (GMT+7) - Thứ ba, 18/08/2015

Tròn 70 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, toàn thể dân tộc ta đã nhất tề vùng lên tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 CÁCH MẠNG THÁNG TÁM Ở HÀ NỘI:TẦM VÓC, Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

GS.TS. Phạm Hồng Tung

Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển

Đại học Quốc gia Hà Nội


Tròn 70 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, toàn thể dân tộc ta đã nhất tề vùng lên tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc Việt Nam sau gần 100 năm bị nô dịch dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đồng thời, biến cố long trời lở đất ấy cũng đánh dấu sự chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế đã tồn tại hàng chục thế kỷ trên đất nước ta, mở đường và chắp cánh để dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên lịch sử mới: kỷ nguyên của cuộc đấu tranh trường kỳ, anh dũng bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất đất nước, đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Ảnh 1:Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam, trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: Tư liệu - TTXVN

Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của trí tuệ, của tinh hoa văn hóa - văn minh Việt Nam được kết tụ, vun bồi trong suốt hàng nghìn năm lịch sử và được nâng lên tầm cao thời đại trong đường lối cách mạng của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay từ khi mới ra đời vào mùa xuân năm 1930, Đảng ta đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng", nhằm "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa thực dân Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập".[1] Trải qua những thử thách khốc liệt trong cuộc đấu tranh sinh tử chống đế quốc, phong kiến, đường lối cách mạng ấy đã đạt tới một tầm cao trí tuệ mới với bản Nghị quyết của Hội nghị Trung ương VIII diễn ra ở Khuổi Nậm, Pác Pó từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941. Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Đảng ta tuyên bố dứt khoát, rõ ràng: "quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc".[2] Và cách mạng Việt Nam được xác định là "cuộc cách mạng dân tộc giải phóng."[3] Đây không chỉ là một chiến lược cách mạng mới, mà thực chất là một tư duy chính trị bắt nguồn từ điểm cốt yếu nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trở thành nền tảng cho toàn bộ đường lối chính trị của Đảng ta, cho tới tận ngày hôm nay.

Được ánh sáng của đường lối đó soi đường, nhân dân Việt Nam đã quy tụ dưới ngọn cờ dân tộc đại nghĩa của Mặt trận Việt Minh. Từ những Cứu quốc hội đầu tiên ở núi rừng Cao – Bắc – Lạng, được cổ vũ mạnh mẽ bởi tiếng súng của Cứu quốc quân ở khu căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai, lực lượng chính trị từng bước được xây dựng và phát triển mạnh mẽ ở các vùng nông thôn và thành thị, làm nền tảng để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Ngày 22 tháng 12 năm 1944 Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời, mở đầu truyền thống quyết chiến quyết thắng với hai trận Phai Khắt, Nà Ngần.

Ảnh 2: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) thành lập ngày 22/12/1944. Ảnh: Tư liệu - TTXVN

Khi cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II đến hồi chung cuộc, trong thế bại vong, phát xít Nhật đã lật đổ chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam vào đêm mùng 9/3/1945. Việc “hai quân cướp nước cắn xé nhau chí tử”[4] đã tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng. Cao trào “kháng Nhật cứu quốc” dâng lên sục sôi, nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần đã nổ ra và giành thắng lợi. Ngày 4 tháng 6 năm 1945, Khu Giải phóng ra đời gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng phụ cận. Chính quyền cách mạng đã bước đầu hình thành với “Thủ đô” ở Tân Trào. Toàn dân tộc Việt Nam cùng sục sôi ý chí quyết vùng lên giành lấy quyền tự chủ, tự định đoạt tương lai của chính mình. Với tinh thần “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”,[5] ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân Đại hội đã khai mạc ở Tân Trào, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng phát đi lời hiệu triệu thiêng liêng của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta! ... Chúng ta không được chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”[6]

Chỉ trong vòng hai tuần lễ, cuộc Tổng khởi nghĩa đã diễn ra và giành thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu trên phạm vi toàn quốc: ngày 19/8 Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8 giành thắng lợi ở kinh thành Huế. Ngày 25/8 giành thắng lợi ở Sài Gòn. Ngày 30/8 vua Bảo Đại thoái vị, trao ấn, kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng. 14 giờ chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội đã diễn ra ngày hội non sông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuyên bố với toàn dân Việt Nam và với thế giới, rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”[7]

Ảnh 3: Cuộc mít tinh phát động khởi nghĩa giành chính quyền do Mặt trận Việt Minh tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 19/8/1945. Ảnh: Tư liệu - TTXVN

 Trong hành trình đi đến độc lập, tự do của dân tộc, cuộc vận động cách mạng tháng Tám ở Hà Nội có một tầm vóc và ý nghĩa vô cùng đặc biệt.

Là nơi “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước”[8]nên từ năm 1010 Thăng Long đã trở thành đế đô của nước Việt. Từ năm 1802 vương triều Nguyễn thành lập, định đô ở Phú Xuân. Tuy không còn là đế đô, nhưng Bắc Thành vẫn là một trọng trấn hàng đầu của đất nước. Từ năm 1902, Hà Nội lại được người Pháp chọn làm thủ phủ của toàn cõi Đông Dương. Vì là nơi trọng trấn hàng đầu của đất nước, nên trong bất kỳ thời gian lịch sử nào, các sự kiện, quá trình diễn ra ở Thăng Long – Hà Nội đều có tác động lan tỏa mạnh mẽ đối với cả nước.

Ngay sau khi tham dự Hội nghị Trung ương VIII ở Pác Bó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã về xuôi và quyết định xây dựng An toàn khu (ATK) tại vùng ven Hà Nội và các địa phương phụ cận. ATK là một loại hình căn cứ cách mạng đặc biệt chưa từng có tiền lệ trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới. Không có được sự che chắn của địa hình núi rừng hiểm trở, ATK dựa vào sự che chở, ủng hộ của người dân, sự mưu trí, sáng tạo và phảm chất tuyệt đối trung thành của cán bộ, đảng viên trong vùng. Dựa chắc vào dân, được nhân dân tin cậy, giúp đỡ, chỉ trong một thời gian ngắn, Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội đã xây dựng được một chuỗi cơ sở liên hoàn vững chắc bao gồm nhiều làng ở Hà Đông, Từ Liêm, Hoài Đức, Đan Phượng, Đông Anh, một phần Yên Lãng (Phúc Yên), một số xã của Gia Lâm, Từ Sơn, Tiên Du kéo sang đến tận Song Liễu, Thuận Thành (Bắc Ninh), tạo thành một “vành đai đỏ” kéo dài từ Tây Nam đến phía Đông Bắc Hà Nội, vừa có cả chiều rộng và chiều sâu.[9] Suốt từ giữa năm 1941 đến mùa Hè năm 1945, ATK là nơi đứng chân vững chắc của Trung ương Đảng, của Xứ ủy Bắc Kỳ và của Thành ủy Hà Nội.

Nằm ngay cạnh trung tâm đầu não hệ thống cai trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhờ có ATK mà Trung ương Đảng đã kịp thời nắm bắt được những diễn biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, nhất là theo dõi được các động tĩnh của kẻ địch. Trên cơ sở đó, Trung ương và các cấp lãnh đạo đã phân tích, đánh giá và đưa ra những chủ trương, quyết sách táo bạo, kịp thời và chính xác, có tầm ảnh hưởng chiến lược đối với toàn bộ cuộc vận động cách mạng trên phạm vi toàn quốc. Hai trong số những quyết định đó chính là sự ra đời của bản Đề cương Văn hóa Việt Nam vào tháng 2 năm 1943 và bản Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12 / 3/ 1945.

Giá trị đặc biệt của bản Đề cương Văn hóa Việt Nam trước hết là đưa ra tuyên ngôn về văn hóa của Đảng ta với ba nguyêntắc“dân tộc, khoa học, đại chúng”– những nguyên tắc nền tảng cho toàn bộ nền văn hóa của nước Việt Nam mới sau này. Nhờ tầm cao trí tuệ và tính nhân văn sâu sắc của nó, bản Đề cương đã nhanh chóng trở thành ngọn cờ tập hợp đội ngũ trí thức yêu nước, tiến bộ, mở đường phát triển lực lượng cách mạng trong các khu vực thành thị từ Hà Nội tới Sài Gòn, góp phần quan trọng đảm bảo cho thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu của cuộc Cách mạng tháng Tám trên phạm vi toàn quốc.

Giá trị đặc biệt của bản Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ở chỗ đã kịp thời vạch ra những phương hướng điều chỉnh chiến lược cách mạng ở thời khắc quyết định, mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của cao trào Kháng Nhật cứu quốc và khởi nghĩa từng phần. Đặc biệt, bản Chỉ thị này đã đưa ra những chỉ dẫn vô cùng quan trọng để sau này các cấp bộ Đảng và Việt Minh kịp chớp thời cơ, tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, ngay cả khi lệnh Tổng khởi nghĩa từ Tân Trào chưa kịp truyền về tới các địa phương.

Cùng với các khu căn cứ Pác Bó ở Cao Bằng và Tân Trào ở Tuyên Quang, ATK ở Hà Nội và vùng phụ cận là một khu căn cứ đặc biệt của Đảng ta và mặt trận Việt Minh trong quá trình lãnh đạo và chỉ huy cuộc Cách mạng tháng Tám đi tới thắng lợi vĩ đại. Với ATK, một lần nữa Hà Nội lại chứng tỏ được tầm vóc và vị thế chiến lược vô cùng trọng yếu của mình đối với cả nước.

Trong quá trình Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong phạm vi toàn quốc, cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội cũng có tầm vóc và ý nghĩa rất đặc biệt.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Tin tức dội tới Hà Nội như một cơn địa chấn khổng lồ, làm cho quân Nhật hoang mang dao động, chính phủ bù nhìn lung lay đến tận gốc rễ. Trong khi đó các tầng lớp nhân dân đều sục sôi, sẵn sàng vùng lên tự mình nắm lấy vận mệnh dân tộc. Thảm trạng đau thương của nạn đói Ất Dậu cùng những tin tức về đoàn quân tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp đang lăm le quay lại từ nhiều hướng càng làm cho bầu không khí ở Hà Nội và khắp cả nước thêm nóng bỏng. Một số đảng phái thân Nhật, như Đại Việt quốc xã, Đại Việt quốc dân đảng, Đại Việt duy tân đảng và Đại Việt dân chính đảng vv... cũng ra sức tranh thủ cơ hội, rắp tâm nhảy ra lợi dụng quần chúng để cướp chính quyền.

Trong khi đó, phần lớn các cán bộ Trung ương và Xứ ủy đang dự Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội ở Tân Trào. Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa Toàn quốc đã phát đi từ đêm ngày 13/8, nhưng do nước lụt và điều kiện giao thông khó khăn nên mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa chưa kịp về đến Hà Nội.

Trong thời khắc quyết định đó, Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội đã thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, tài thao lược và trí tuệ vô song để chủ động ứng phó với tình hình.

Tối ngày 14 và ngày 15 tháng 8, Xứ ủy Bắc Kỳ đã họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông). Mặc dù chưa nhận được chỉ thị từ Trung ương, nhưng phân tích kỹ tình hình, căn cứ vào Chỉ thị ngày 12/3/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Xứ ủy cho rằng thời cơ đã tới và quyết định tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở 10 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (thuộc phạm vi lãnh đạo của Xứ ủy). Riêng đối với Hà Nội, Xứ ủy cho rằng việc khởi nghĩa cần phải được cân nhắc kỹ, bởi ở đây tập trung tới hơn 1 vạn quân Nhật, bao gồm cả Tổng hành dinh của Quân đoàn 38. Vì vậy, Xứ ủy quyết định thành lập ngay Ủy ban Quân sự Cách mạng (UBQSCM) Hà Nội do đồng chí Nguyễn Khang - ủy viên thường vụ Xứ ủy đứng đầu.[10] Ủy ban có nhiệm vụ xúc tiến các điều kiện tiến tới lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội. Việc thành lập UBQSCM Hà Nội vào thời điểm trên là một quyết định đúng đắn, chủ động nhưng đầy tinh thần trách nhiệm, táo bạo mà không liều lĩnh, thận trọng nhưng không do dự để mất thời cơ của Xứ ủy Bắc kỳ và Thành ủy Hà Nội. Đây là khởi điểm cho thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội.

Như vậy, chủ trương khởi nghĩa giành chính quyền đã được thông qua với quyết tâm chính trị rất cao, nhưng nhiều vấn đề nan giải đã đặt ra trước UBQSCM Hà Nội, trong đó quan trọng nhất là: Thứ nhất, làm thế nào để hiệu triệu và quy tụ đông đảo nhất quần chúng để kịp có đủ lực lượng giành chính quyền? Thứ hai, quân Nhật sẽ phản ứng ra sao và các đối phó của ta thế nào? Thứ ba, chính quyền bù nhìn và các đảng phái thân Nhật sẽ phản ứng ra sao và đối sách của ta thế nào? Thứ tư, khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội sẽ diễn ra bằng hình thái, phương thức nào? Nếu không tìm được giải pháp phù hợp cho bốn vấn đề trên thì thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội sẽ không được đảm bảo.

Đứng trước các vấn đề nan giải nói trên, UBQSCM Hà Nội, cán bộ, đảng viên và nhân dân Hà Nội đã chủ động, sáng tạo, xông vào thực tiễn để tìm ra giải pháp từ chính thực tiễn.

Đối với vấn đề huy động và tổ chức quần chúng, ngay tối ngày 15/8, UBQSCM Hà Nội cùng Thành ủy Hà Nội đã họp tại chùa Hà, một mặt giao các đội công nhân xung phong, thanh niên xung phong, tự vệ chiến đấu khẩn trương tiến hành nhiều đợt tuyên truyền rộng rãi trong các tầng lớp dân chúng, xiết chặt đội ngũ, sẵn sàng vùng lên theo mệnh lệnh của UBQSCM. Đồng thời, UBQSCM chỉ đạo Việt Minh các huyện ngoại thành và các địa phương lân cận tiến hành khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở các địa phương và sẵn sàng huy động hàng chục vạn nông dân tiến vào nội thành tham gia khởi nghĩa khi có lệnh.

Vấn đề đối sách với quân Nhật nổi lên là vấn đề quan trọng và nan giải nhất đối với quá trình giành chính quyền ở Hà Nội và ở hầu hết các tỉnh và thành phố. Từ năm 1940, ngay khi quân Nhật kéo vào, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đánh Pháp, đuổi Nhật. Từ sau ngày 9/3/1945, Đảng và Mặt trận Việt Minh tiếp tục phát động và lãnh đạo Cao trào kháng Nhật cứu quốc. Đường lối đó không hề thay đổi cho đến khi Nhật hoàng đầu hàng Đồng Minh. Tuy chưa được truyền về đến Hà Nội, nhưng ngay trong bản Quân lệnh số 1 ban hành đêm ngày 13/8, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc cũng yêu cầu: "tập trung lực lượng, kíp đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch; đánh chẹn các đường rút lui của chúng, tước võ khí của chúng!"[11]

Nếu tiếp tục chấp hành các chỉ thị trước đó của Đảng và nhất là thực thiQuân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc thì chắc chắn cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và trên cả nước sẽ rất khó khăn, thậm chí không giành được thắng lợi. Khi đó, số quân Nhật ở Việt Nam lên đến trên 90.000 người, được trang bị đầy đủ, và cần phải nhớ rằng đây là đội quân chưa từng thua trận nào trong toàn bộ cuộc chiến. Tuy có bị khủng hoảng tinh thần, nhưng trước sau đây vẫn là đội quân có tinh thần kỷ luật cao.[12] Riêng ở Hà Nội số quân Nhật là hơn 10.000. Trong khi đó, toàn bộ lực lượng vũ trang cách mạng chỉ có 3 chi đội, tổng cộng khoảng 700 người, phần lớn được trang bị thô sơ, dù sục sôi tinh thần chiến đấu nhưng chưa từng có kinh nghiệm trận mạc.[13]

Sự chênh lệch quá to lớn trong so sánh lực lượng chính là vấn đề UBQSCM Hà Nội băn khoăn nhất. Từ ngày 15 và suốt ngày 16/8 Ủy ban và Thành ủy liên tục họp bàn, nhưng chưa xác định được đối sách tối ưu với quân Nhật.

Giữa lúc đó, nhận được tin Tổng hội công chức đang ra sức huy động quần chúng tổ chức một cuộc mít tinh lớn vào ngày 17/8 để ủng hộ Nội các Trần Trọng Kim. Ngay lập tức, UBQSCM Hà Nội đã quyết định chiếm diễn đàn, biến cuộc mít tinh của chúng thành cuộc mít tinh của ta, vừa tranh thủ tập hợp quần chúng, vừa kiểm tra thái độ và mức độ phản ứng của quân Nhật và chính quyền bù nhìn.

Với tinh thần chủ động, sáng tạo, kiên quyết, khôn khéo hành động, được sự ủng hộ to lớn của quần chúng nhân dân, UBQSCM Hà Nội đã lãnh đạo thành công việc cướp diễn đàn, biến cuộc mít tinh của Tổng hội công chức thành cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh. Quân Nhật giữ thái độ trung lập. Chính quyền bù nhìn lúng túng, bất lực. Các lực lượng trung gian ngả hẳn về phe cách mạng. Cuộc mít tinh sau đó đã biến thành cuộc biểu tình rầm rộ, cuốn theo hàng vạn dân chúng, kể cả một đội Bảo an binh.[14]

Với thắng lợi của việc đánh chiếm cuộc mít tinh ngày 17/8, toàn bộ bốn vấn đề nan giải nói trên đã có lời giải từ thực tiễn. Ngay đêm hôm đó, Thành ủy Hà Nội và UBQSCM họp hội nghị mở rộng[15] và đưa ra quyết định quan trọng về kế hoạch Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội như sau: Cuộc Tổng khởi nghĩa sẽ diễn ra vào ngày 19/8. Phương thức giành chính quyền là: tổ chức một cuộc mít tinh lớn của quần chúng tại quảng trường Nhà hát lớn, sau đó chuyển thành tuần hành thị uy, xông lên chiếm lấy những cơ quan trọng yếu của chính phủ bù nhìn trong nội thành, sau đó khẩn trương thành lập chính quyền cách mạng. Phương châm tổ chức và hành động là: dùng lực lượng chính trị áp đảo của quần chúng cách mạng là chủ yếu để tiến hành khởi nghĩa, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang; chĩa mũi nhọn chính vào chính quyền bù nhìn, kết hợp với việc vận dụng sách lược mềm dẻo nhằm vô hiệu hóa sự phản ứng của quân Nhật.[16]

Cùng với việc gấp rút huy động và tổ chức lực lượng quần chúng, việc nắm bắt chính xác thái độ của quân Nhật vẫn là vấn đề cốt yếu nhất. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể gây tổn thất to lớn cho sự nghiệp cách mạng. Trong kế hoạch khởi nghĩa của Thành ủy và UBQSCM, ta không đặt vấn đề tước vũ khí của quân đội Nhật và không chủ trương đánh chiếm những nơi có quân Nhật đang chiếm giữ, như Phủ Toàn quyền, Bộ Tổng tham mưu, Đồn Thủy, Thành Cửa Bắc, Ngân hàng Đông Dương vv... Nhưng mặt khác, các lực lượng cũng được lệnh sẵn sàng chiến đấu, nếu quân Nhật can thiệp, đàn áp.[17]

Trong ngày 18, một số sự kiện đặc biệt đã diễn ra, giúp cho UBQSCM và Thành ủy Hà Nội có điều kiện tiếp tục kiểm tra và nắm chắc hơn thái độ của quân Nhật. Chiều hôm đó, một nhóm đội viên Công nhân cứu quốc hội dùng ô tô cắm cờ đỏ sao vàng chở vũ khí vào nội thành qua cầu Paul Doumer (cầu Long Biên), bị quân Nhật bắt giữ. Đồng thời, một đội Tuyên truyền xung phong có vũ khí cũng bị quân Nhật bắt ở phố Tràng Tiền. Chúng đem tất cả về tạm giữ ở Bộ Tổng tham mưu Nhật. Được tin, UBQSCM liền huy động hàng nghìn quần chúng đến biểu tình, đòi quân Nhật thả người và trả phương tiện, vũ khí. Đồng thời, ta cử một đoàn đại biểu do đồng chí Trần Đình Long dẫn đầu đến thương lượng với Bộ Tổng tham mưu Nhật. Lúc đầu, quân Nhật lo ngại bị quần chúng tấn công nên đã cho xe tăng và binh lính xông ra chiếm giữ các vị trí xung yếu. “Bọn lính Nhật chạy rầm rập, súng cắm lưỡi lê sáng quắc, thi nhau ré lên những tiếng man rợ. Nhiều họng súng liên thanh Nhật chĩa thẳng vào đám đông.”[18] Tuy nhiên, quần chúng vẫn xiết chặt đội ngũ hô khẩu hiệu, nhưng không manh động. Trong khi đó, phái đoàn của UBQSCM tiếp tục thuyết phục quân Nhật không nên can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam. Cuối cùng, tới 10 giờ đêm, Bộ Tổng tham mưu Nhật nhượng bộ, “cử hai sĩ quan đến tuyên bố trả người, trả cờ, trả ô tô và đề nghị ta giữ làm tin hai khẩu súng ngắn của họ để hôm sau đến đổi lấy vũ khí về.”[19] Thắng lợi của cuộc đấu tranh này có ý nghĩa rất quan trọng. Nó cho thấy chủ trương của Thành ủy và UBQSCM nhằm vô hiệu hóa quân Nhật thông qua đấu tranh ngoại giao mềm dẻo dựa trên áp lực to lớn của quần chúng có tổ chức là đúng đắn và hoàn toàn khả thi.

Ngày 19/8, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội đã diễn ra nhanh gọn, ít đổ máu, theo đúng kế hoạch của Thành ủy và UBQSCM Hà Nội. Sau cuộc mít tinh khổng lồ ở quảng trường Nhà hát lớn, hơn 200.000 quần chúng dưới sự lãnh đạo của UBQSCM Hà Nội đã tỏa đi chiếm công sở, cơ quan trọng yếu. Chính phủ bù nhìn thân Nhật bị buộc phải đầu hàng nhanh chóng. Tuy nhiên, cuộc đánh chiếm trại Bảo an binh đã diễn ra không thuận lợi. Khi quần chúng do đồng chí Nguyễn Quyết, Bí thư Thành ủy và Đoàn thanh niên xung phong dẫn đầu kéo đến tước vũ khí của đại đội Bảo An binh, thì quân Nhật cho xe tăng và binh lính ra ngăn cản, đòi tước vũ khi quân cách mạng và chiếm lại trại Bảo an binh. Trước tình thế gay go đó, vận dụng kinh nghiệm đã có, UBQSCM và Thành ủy một mặt huy động thêm quần chúng xiết chặt đội ngũ, phản đối quân Nhật can thiệp. Đồng thời, ta cử người đến Bộ Tổng tham mưu Nhật thương lượng. Cuối cùng, Bộ Tổng tham mưu Nhật nhượng bộ, rút xe tăng và lính về. Cuộc Tổng khởi nghĩa giành toàn thắng ở Thủ đô.[20]

Ngay ngày hôm sau, chính quyền cách mạng được thành lập và ra mắt nhân dân.[21] Trong không khí tưng bừng, phấn khởi, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Hà Nội khẩn trương ổn định tình hình, chuẩn bị để Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam mới.

Cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi ở Hà Nội đã có tác động lan tỏa mạnh mẽ đến nhiều địa phương trong cả nước. Ngay trong đêm ngày 19 tháng 8, từ Dinh Khâm sai, UBQSCM Hà Nội đã dùng điện thoại yêu cầu một số tỉnh trưởng ở Bắc Bộ bàn giao chính quyền cho đại diện Việt Minh ở các địa phương. Làn sóng Tổng khởi nghĩa lan nhanh trên cả nước. Ở Sài Gòn và nhiều tỉnh, thành phố khác, đảng bộ và Mặt trận Việt Minh nhận được tin Hà Nội khởi nghĩa thành công đã nhanh chóng đi đến quyết định phát động quần chúng vùng lên giành chính quyền. Bài học về đấu tranh ngoại giao, vô hiệu hóa quân Nhật cũng được nhiều nơi vận dụng thành công. UBQSCM Hà Nội còn nhanh chóng cử cán bộ đi Hải Phòng, Hà Đông, Nam Định phối hợp, hỗ trợ cán bộ và nhân dân địa phương tiến hành khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi. 

Ngay trong đêm ngày 20 tháng 8, Thành ủy và Ủy ban nhân dân cách mạng đã kịp thời huy động hàng chục nghìn người tham gia cứu đê sông Hồng, sông Cà Lồ, sông Đáy đang bị nước lụt đe dọa. Chỉ trong một đêm, đoạn đê từ bến Chèm đến Phà Đen đã được gia cố, tính mạng và cuộc sống của hàng chục vạn nhân dân nội thành được đảm bảo. Uy tín của chính quyền mới nhanh chóng được khẳng định. Các tầng lớp nhân dân, kể cả những nhân viên của chế độ cũ tự giác đến gặp đại diện chính quyền và Việt Minh để xin nhận nhiệm vụ, chung tay góp sức xây dựng chế độ mới.[22]

Ngày 21/8 đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh và Trung ương Đảng về tới Hà Nội. Ngày 23/8 Chủ tịch Hồ Chí Minh về tới làng Phú Gia thuộc ATK và ngày 25/8 Người vào nội thành. Trung ương và Thành ủy bố trí Người ở tại nhà ông Trịnh Văn Bô, số 48 phố Hàng Ngang. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương tiếp tục lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa đang diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Hai đoàn cán bộ cao cấp được giao nhiệm vụ khẩn trương lên đường vào phía Nam. Một đoàn do đòng chí Trần Huy Liệu dẫn đầu có nhiệm vụ và Huế tiếp nhận sự thoái vị, bàn giao biểu tượng quyền lực của Hoàng đế Bảo Đại cho chính quyền cách mạng. Một đoàn khác do đồng chí Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đi vào miền Trung và miền Nam, thay mặt Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh thống nhất tổ chức Đảng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ.

Ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng xem xét cải tổ Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc thành Lâm thời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, Người dốc tâm sức, trí tuệ để khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ. Ngày 2/9/1945, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội thay mặt cho nhân dân cả nước tham dự Lễ Tuyên ngôn độc lập và thề kiên quyết giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

*

*     *

Thắng lợi của Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội không chỉ có ý nghĩa và tầm vóc lớn lao mà còn để lại nhiều bài học quý, có giá trị thực tiễn cao đối với công cuộc xây dựng và phát triển bền vững Thủ đô ngày nay.

Bài học thứ nhấtđược rút ra từ lịch sử vận động Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội bài học về tinh thần chủ động, năng động, sáng tạo, có trách nhiệm cao trong công tác lãnh đạo của Đảng. Ở thời khắc quyết định nhất, nếu Thành ủy Hà Nội và Xứ ủy Bắc Kỳ không chủ động chớp thời cơ, đi tới quyết định Tổng khởi nghĩa, thì rất có thể cách mạng sẽ gặp khó khăn không chỉ ở Hà Nội mà trên phạm vi toàn quốc; Ở thời khắc quyết liệt nhất, nếu Thành ủy và UBQSCM Hà Nội không dũng cảm, táo bạo và khôn khéo tìm ra phương thức khởi nghĩa phù hợp, nhất là tổ chức thành công cuộc đấu tranh ngoại giao, trung lập và vô hiệu hóa được hơn1 vạn quân Nhật, thì chắc chắn cách mạng rất khó thành công, hoặc nếu có thành công thì tổn thất cũng sẽ rất lớn. Qua đó, có thể thấy rằng để lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng ở nơi trọng trấn hàng đầu của đất nước, Đảng bộ Hà Nội, nhất là đội ngũ lãnh đạo, không những phải có đủ tài năng, phẩm chất, tầm nhìn mà còn phải có đủ bản lĩnh của người cầm quân: chủ động, năng động, táo bạo, quyết đoán mà không rơi vào chủ quan, phiêu lưu; cẩn trọng, bài bản, nguyên tắc nhưng không trở nên do dự, thụ động, đánh mất thời cơ thuận lợi.

Bài học thứ hai được rút ra từ lịch sử cuộc vận động Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội chính là bài học về sự gắn bó máu thịt giữa Đảng tiên phong và quần chúng nhân dân. Không có sự che chở, ủng hộ của nhân dân Hà Nội và vùng phụ cận thì Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội không thể xây dựng thành công ATK, một căn cứ đặc biệt có tầm quan trọng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Cũng chính là nhờ vào hậu thuẫn to lớn của lực lượng cách mạng của quần chúng mà Thành ủy và UBQSCM Hà Nội đã thực hiện thành công cuộc đấu tranh ngoại giao dũng cảm, táo bạo và mưu trí để vô hiệu hóa hơn 1 vạn quân Nhật, đồng thời, cũng chính sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân mà ý chí của chính phủ bù nhìn và các đảng phái thân Nhật đã bị đè bẹp. Cuối cùng, chính sức mạnh như triều dâng thác đổ của hơn 20 vạn nhân dân Hà Nội đã làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 19/8.

 Gắn bó chặt chẽ với nhân dân, dựa chắc vào dân là bài học muôn thuở, không bao giờ cũ. Tuy nhiên, đây lại là bài học không dễ gì có thể vận dụng thành công được. Chỉ khi nào toàn Đảng và từng cán bộ, đảng viên quán triệt sâu sắc tư tưởng của Hội nghị Trung ương VIII, thực sự đặt quyền lợi của nhóm, của bộ phận, của giai cấp và của cá nhân mình dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc, thì khi đó Đảng và cán bộ đảng mới được nhân dân tin yêu, ủng hộ và che chở. Cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội cũng chỉ ra rằng, để được nhân nhân tin yêu, ủng hộ thì người cán bộ, đảng viên phải thực sự gần dân, lắng nghe, thấu hiểu nhân dân và hơn hết, phải đứng ở vị trí tiên phong, là người lãnh đạo và là tấm gương sáng để nhân dân noi theo.

Bài học thứ ba là bài học về phát huy sức mạnh tổng hợp. Cho đến nay, các nghiên cứu đã chỉ ra, rằng thắng lợi to lớn, trọn vẹn của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở Hà Nội là kết quả của sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao, giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, giữa lực lượng của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân ở cả khu vực thành thị và nông thôn, tức là sức mạnh của khối đại đoàn kết của nhân dân trên nền tảng của khối liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Qua nghiên cứu này, chúng tôi muốn chỉ ra một nguồn sức mạnh, một nguồn lực đặc biệt đã được khơi dậy và thăng hoa, góp phần tạo nên sức mạnh và nét đặc sắc của cuộc Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội: nguồn lực văn hóa và sức mạnh của các giá trị văn minh - văn hiến Hà Nội. Nói đến cách mạng là người ta phải nói đến bạo lực, đến hy sinh, mất mát nhiều sinh mạng, tài sản, đến các hành động chiến đấu quyết liệt, sinh tử của hai bên. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội đã diễn ra theo cách rất riêng: quyết liệt nhưng hòa bình, nhanh gọn và không có đổ máu. Suốt ba ngày 17, 18, 19, tuy không khí cách mạng hết sức khẩn trương và sôi sục, nhưng lại rất náo nhiệt pha lẫn sự hồi hộp rộn ràng trong tiếng các nhóm quần chúng vừa may cờ đỏ sao vàng, vừa tự tập hát Tiến quân ca, Diệt phát xít. Giữa khung cảnh đó, ít ai biết rằng nhạc sĩ Văn Cao - một nhà văn hóa tiêu biểu của Hà Nội - tác giả của nhiều ca khúc lãng mạn thời "tiền chiến" lại cũng chính là người đã sáng tác những bài ca cách mạng rực lửa mà quần chúng đang tập hát say sưa. Mọi người càng không biết rằng, người nghệ sĩ tài hoa ấy trong những ngày tiền khởi nghĩa chính là tổ trưởng một tổ công tác đặc biệt chuyên trừ gian, diệt ác, bảo vệ Trung ương. Trong tay ông có cả một vali vũ khí và ông tự nhận mình đã trở nên "lão luyện trong nghề" này! Rồi đúng vào ngày hội của quần chúng 19/8, do bị ốm mà ông bèn từ bỏ công việc sắt máu ấy để trở lại đúng con người nghệ sĩ cách mạng của mình: đứng bắt nhịp cho quần chúng hát bài Tiến quân ca trước thềm Nhà hát lớn, trong lòng vừa bâng khuâng, vừa tràn ngập niềm vui đến nghẹn ngào.[23]

Hình ảnh của nhạc sĩ - chiến sĩ Văn Cao trong những ngày mùa Thu lịch sử ấy cũng có thể nói tiêu biểu cho một nét rất riêng của Hà Nội - Thủ đô anh hùng của các giá trị văn minh, văn hiến và cách mạng.




[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 2.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 113.

[3] Như trên, tr. 119.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 365.

[5] Lời lãnh tụ Hồ Chí Minh căn dặn Võ Nguyên Giáp. Xem: Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 197.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 563.

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 557.

[8] Lời ghi trong Chiếu dời đô của Hoàng đế Lý Công Uẩn, xem: Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.

[9] Theo hồi tưởng của đồng chí Mai Vy thì lúc đầu (cuối năm 1939), Ban Thường vụ Trung ương dự kiến xây dựng vùng lõi của ATK I ở vùng Liễu Khê, Liễu Ngạn và một số làng thuộc huyện Thuận Thành (Bắc Ninh). Đồng chí Hoàng Văn Thụ là người trực tiếp chỉ đạo xây dựng ATK ở đây. Sau đó, đồng chí Trường Chinh cũng về vùng này công tác một thời gian khá dài. Sau Hội nghị Trung ương VIII, Ban Thường vụ Trung ương mới quyết định đẩy vùng lõi của ATK I vào gần hơn với nội thành Hà Nội cho tiện nắm bắt tình hình và lãnh đạo cách mạng. Xem: Mai Vy, "Lần đầu được gặp anh Năm", in trong: Trường Chinh - một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 598 - 607.

[10] Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội gồm có: Nguyễn Khang - Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, Nguyễn Huy Khôi (Trần Quang Huy) – Phụ trách Ban công vận của Xứ ủy, Nguyễn Quyết – Bí thư Thành ủy Hà Nội, Lê Trọng Nghĩa – Cán bộ Xứ ủy và Nguyễn Duy Thân – Thành ủy viên Hà Nội. Đồng chí Trần Đình Long được cử làm cố vấn của Ủy ban. Xem: BCH Đảng bộ Thành phố Hà Nội, Lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội (1930-2000), Nxb. Hà Nội, 2004, 119. Xem thêm: Trần Quang Huy, “Hà Nội trong rạng đông kỷ nguyên Hồ Chí Minh”, in trong: 19-8: Cách mạng là sáng tạo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 1995, tr. 24. 

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 421-422.

[12] Trong lời tuyên bố của Nhật hoàng công bố ngày 15/8/1945, tuy thông báo chấp nhận tuyên bố của các nước Đồng Minh tại Hội nghị Potsdam, tức là chấp nhận đầu hàng vô điều kiện. Song, trong văn bản này Nhật hoàng không ra lệnh cho quân đội Nhật hạ vũ khí. Theo một số nguồn tin thì đến ngày 21/8 quân Nhật ở Việt Nam mới nhận được lệnh ngừng bắn. Xem: Nguyễn Quyết, đã dẫn, tr. 97.

[13] Xem: Trần Quang Huy, sđd, tr. 28.

[14] Về diễn biến cụ thể, xem: Trần Quang Huy, Sđ d, tr. 30-34.

[15] Cuộc họp diễn ra tại nhà bà Hai Nhã, thôn Dịch Vọng Tiền. Xem: Nguyễn Quyết, “Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội ngày 19-8”, in trong: Tạp chí Lịch sử quân sự, số 284 (8/2015), tr. 94.

[16] Xem: Trần Quang Huy, sđd, tr. 35 và 47; Nguyễn Quyết, “Tổng khởi nghĩa ...” đã dẫn, tr. 94-95; BCH Đảng bộ thành phố Hà Nội, Lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội (1930-2000), sđd, tr. 123-124.

[17] Xem: BCH Đảng bộ thành phố Hà Nội, Lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội (1930-2000), sđd, tr. 124.

[18] Xem: Trần Quang Huy, sđd, tr. 39.

[19] Như trên, tr. 40.

[20] Xem: BCH Đảng bộ thành phố Hà Nội, Lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội (1930-2000), sđd, tr. 130-131.

[21] Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Bắc Bộ do đồng chí Nguyễn Khang làm Chủ tịch. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội do đồng chí Nguyễn Huy Khôi làm Chủ tịch. BCH Đảng bộ thành phố Hà Nội, Lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội (1930-2000), sđd, tr. 131.

[22] Xem: Trần Quang Huy, sđd, tr. 48; Lê Trọng Nghĩa, “Các ủy ban nhân dân cách mạng ra mắt ở Hà Nội sau khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám”, in trong:19-8: Cách mạng là sáng tạo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 1995, tr. 97-103.   

[23] Xem: Văn Cao, "Tiến quân ca ngày ấy", in trong:19-8: Cách mạng là sáng tạo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 1995, tr. 11-15.  

Gửi bình luận


Họ tên  
Email  
Tiêu đề  
 
Gởi
 
  Tiếng Việt cho người nước ngoài
 
  Tin Đại học Quốc gia Hà Nội
 
  Tin hoạt động của Viện
 
  Tin Việt Nam học
 
  Hội thảo khoa học
 
  Chương trình hợp tác, nghiên cứu
 
  Đề tài, đề án
 
  Hoạt động đoàn thể
 
  Sách, giáo trình
 
  Tài liệu download
 
  Tài nguyên số
 
  Liên hệ
 
  Hỗ trợ trực tuyến  

Phòng Hành chính Tổng hợp

024.355.89.073

Phòng Khoa học công nghệ và Đào tạo

024.355.77.203

  Văn bản